Đọc hiểu văn bản

3 Đề đọc hiểu Bài thơ cây chuối kèm đáp án chi tiết

Bài thơ cây chuối đọc hiểu (Ba tiêu) - Nguyễn Trãi

Bài thơ Cây chuối (Ba tiêu) của Nguyễn Trãi là một bài thơ viết bằng chữ Nôm tuy ngắn gọn, giản dị nhưng không kém phần độc đáo. Bài thơ chỉ vỏn vẹn bốn câu thơ ngắn gọn với câu chữ, giọng điệu gần gũi và thân thuộc, Nguyễn Trãi đã khiến cho người đọc phải có một cái nhìn khác về hình ảnh cây chuối – một loài cây mà ai cũng biết, cũng quen thuộc. Ngay sau đây, cô xin gửi đến các em 3 bộ đề đọc hiểu Bài thơ cây chuối kèm đáp án chi tiết được cô tổng hợp từ các bài kiểm tra của các trường trên cả nước. Hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em ôn tập.

Hình tượng cây chuối – những mạch ngầm văn hóa! - Báo Công an Nhân dân điện tử
Bài thơ cây chuối đọc hiểu (Ba tiêu) – Nguyễn Trãi

Đọc hiểu Bài thơ cây chuối – Đề số 1

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem.

(Cây chuối – Nguyễn Trãi)

Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Lời giải:

Phương thức biểu đạt bài Cây chuối: Miêu tả, biểu cảm

Câu 2. Tìm các từ ngữ miêu tả trực tiếp cây chuối trong bài thơ.

Lời giải:

Các từ ngữ miêu tả trực tiếp cây chuối trong bài thơ: Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm, đầy buồng lạ, mầu thâu đêm.

Câu 3. Từ “buồng lạ” được hiểu như thế nào trong bài thơ?

Lời giải:

Từ “buồng lạ” được hiểu như những buồng chuối non mới mọc thêm ra.

Câu 4. Câu thơ “Tình thư một bức phong còn kín” có ý nghĩa gì?

Lời giải:

Câu thơ “Tình thư một bức phong còn kín” có ý nghĩa là tình cảm lứa đôi vẫn còn e ấp, chưa thể thổ lộ, giãi bày với người kia.

Câu 5. Bài thơ giúp anh (chị) hiểu gì về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình?

Lời giải:

Bài thơ gợi ra vẻ đẹp của nhân vật trữ tình là người dịu dàng, muốn thổ lộ tình cảm với người mình yêu.

Câu 6. Nhận xét ngắn gọn về yếu tố nghệ thuật đặc sắc được thể hiện trong bài.

Lời giải:

Biện pháp nhân hóa “gió nơi đâu gượng mở xem”

Tác dụng: diễn đạt sinh động, thú vị về tình cảm của nhân vật trữ tình với người mình yêu.

Dường như muốn tình cảm của mình được người kia biết đến.

Câu 7. Viết đoạn văn giới thiệu bài thơ “Cây chuối” của Nguyễn Trãi

Lời giải:

Bài thơ Ba tiêu – Cây chuối của danh nhân Nguyễn Trãi là một bài thơ viết bằng chữ Nôm tuy ngắn gọn, giản dị nhưng không kém phần độc đáo. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, nằm trong tập thơ Quốc âm thi tập nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Chỉ vỏn vẹn bốn câu thơ ngắn gọn với câu chữ, giọng điệu gần gũi và thân thuộc, Nguyễn Trãi đã khiến cho người đọc phải có một cái nhìn khác về hình ảnh cây chuối – một loài cây mà ai cũng biết, cũng quen thuộc. Mùa xuân với khí hậu ấm áp, dễ chịu, mùa hoa nở và cây chuối cũng như bao cây khác, khi vào mùa xuân, nó vốn đã tươi tốt, nay lại càng tốt thêm. Những buồng chuối xanh mơn mởn, đẹp một cách lạ lùng cả ngày lẫn đêm. Còn những đọt chuối non kia, giống như bức thư tình còn e ấp không muốn mở. Gió ở nơi đâu, cứ quấn quýt lại gần đòi mở lá thư. Có lẽ, bài thơ này không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh cây chuối, mà nó như là một bức thư tràn đầy tình cảm được Nguyễn Trãi gửi gắm đến người đọc.

Đọc hiểu Bài thơ cây chuối – Đề số 2

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem.

(Cây chuối – Nguyễn Trãi)

Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

A. Thất ngôn tứ tuyệt

B. Thất ngôn bát cú đường luật

C. Thất ngôn xen lục ngôn

D. Song thất lục bát

Câu 2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu 3

A. Phép điệp

B. Phép đối

C. Phép so sánh

D. Phép nhân hóa

Câu 3. Căn cứ vào câu thơ đầu, cho biết bài thơ này được Nguyễn Trãi làm trong giai đoạn nào?

A. Giai đoạn khởi nghĩa Lam Sơn

B. Giai đoạn ta đánh thắng quân Minh xâm lược

C. Giai đoạn làm quan dưới triều nhà Lê

D. Giai đoạn lui về ở ẩn

Câu 4. Nội dung bài thơ gợi bạn nhớ đến bài thơ nào đã được học trong SGK?

A. Bảo kính cảnh giới 43

B. Bình Ngô đại cáo

C. Bạch Đằng hải khẩu

D. Dục Thúy sơn

Câu 5. Biện pháp nhân hóa trong câu cuối có tác dụng gì?

A. Nhấn mạnh sự sinh động, gợi cảm của thiên nhiên

B. Nói lên niềm vui của tác giả trước những vẻ đẹp mà thiên nhiên đem lại

C. Tô đậm vẻ đẹp huyền ảo của bức tranh thiên nhiên

D. Cả đáp án B và C

Câu 6. Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ là?

A. Rực rỡ, huy hoàng

B. Kì vĩ, tráng lệ

C. Sinh động, giàu sức sống

D. Ảm đạm, u buồn

Câu 7. Khía cạnh nào của con người tác giả được thể hiện trong bài thơ?

A. Tấm lòng trung hiếu của tác giả

B. Tấm lòng trung hiếu trước sau không thay đổi của tác giả

C. Tấm lòng yêu đời, yêu cuộc sống

D. Tình yêu thiên nhiên tha thiết

Câu 8. Nêu chủ đề của bài thơ?

Lời giải:

Chủ đề của bài thơ: Vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn của tác giả: Đó là một tâm hồn tinh tế với tình yêu thiên nhiên tha thiết

Câu 9. Có ý kiến cho rằng: “Thơ Nôm Nguyễn Trãi giản dị, đậm đà tính dân tộc”. Quan điểm của bạn? Lí giải?

Lời giải:

Có ý kiến cho rằng: “Thơ Nôm Nguyễn Trãi giản dị, đậm đà tính dân tộc”. Em hoàn toàn đồng tình với ý kiến này. Ngay như trong bài thơ Cây chuối, một loại cây rất phổ biến trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Dưới lời thơ của Nguyễn Trãi, cây chuối hiện lên vô cùng đẹp mắt. Với những ngôn từ rất mộc mạc, dễ hiểu tác giả đã miêu tả cho người đọc thấy vẻ đẹp của cây chuối tươi tốt với nhiều buồng non mới lạ. Từ việc miêu tả cây chuối, tác giả thể hiện tình cảm của mình với thiên nhiên. Đó chính là cái giản dị và đậm đà tính dân tộc của thơ Nôm Nguyễn Trãi.

Câu 10. Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi qua bài thơ. (Viết khoảng 5 – 7 dòng)

Lời giải:

Gợi ý làm bài:

– Vẻ đẹp tâm hồn tinh tế, rộng mở trước thiên nhiên

– Vẻ đẹp tình yêu, sự hòa hợp của tâm hồn với thiên nhiên

– Vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, coi thường danh lợi.

Cây chuối là một loại cây rất phổ biến và gần gũi trong đời sống của chúng ta. Thế nhưng, dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, cây chuối hiện lên với vẻ đẹp tươi mới vào mùa xuân. Đó là những lá xanh tươi tốt, những buồng chuối non “e ấp” như người đang yêu không dám ngỏ lời. Mượn hình ảnh của “buồng lạ” mà tác giả thể hiện tình cảm lứa đôi vẫn còn e ấp, chưa thể thổ lộ, giãi bày với người kia giống như những bức thư chưa được mở. Qua đó chúng ta có thể thấy một tâm hồn thanh cao ở Nguyễn Trãi, tâm hồn yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên từ những điều nhỏ bé, giản dị.

II. LÀM VĂN

Bạn hãy viết một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ “Ba tiêu” (Cây chuối)

Lời giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận phân tích, đánh giá một bài thơ.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ “Cây chuối”.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.

Sau đây là một hướng gợi ý:

1. Giới thiệu tác phẩm, tác giả, thể loại.. ; nêu nội dung cần phân tích, đánh giá

2. Phân tích, đánh giá về chủ đề:

– Bài thơ miêu tả vẻ đẹp của cây chuối: Tươi tốt, đầy sức sống khi mùa xuân đến; mùi thơm dào dạt suốt đêm tỏa khắp khu vườn; nõn chuối non như phong thư tình đầy gợi cảm, bí ẩn; gió xuân như chàng trai đa tình ngập ngừng khao khát hòa hợp khám phá

– Bố cục:

+ Câu thơ đầu: Mở đầu trực tiếp; “tự bén”, sự chủ động của cây chuối; tốt lại thêm: Sự tươi tốt được thổi thêm sức sống của mùa xuân càng ngập tràn.

+ Câu thứ hai: Đầy buồng lạ: Buồng chuối căng tròn, sai trĩu quả; màu thâu đêm mang đến hương thơm ngào ngạt cả khu vườn mời gọi, quyến rũ, dân dã, đậm chất quê

+ Câu thứ ba: Nghệ thuật so sánh độc đáo: Ngọn chuối non giống bức thư tình cuộn kínà mang đến cho cây chuối sự quyến rũ, gợi cảm, bí ẩn.

+ Câu cuối: Nghệ thuật nhân hóa: Gượng mở xemà tạo vẻ đẹp hòa hợp giữa thiên nhiên với thiên nhiên. Gió như một chàng trai vừa đa tình vừa ngượng ngùng không cưỡng lại vẻ đẹp và sự bí ẩn của lá chuối non nên đã có hành động liều lĩnh, táo bạo. Tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, đa tình của tác giả.

3. Phân tích, đánh giá về nghệ thuật:

– Sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

– Sử dụng nhiều hình ảnh thơ độc đáo

– Ngôn từ mộc mạc, thi liệu dân dã

4. Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật và nét độc đáo về chủ đề của bài thơ; nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức bài thơ.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy.

Đọc hiểu Bài thơ cây chuối – Đề số 3

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI: BA TIÊU

(Xuân Diệu)

Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ cần 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài “Ba tiêu”.

“Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín,

Gió nơi đâu gượng mở xem”

Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem…

Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: – “Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì “buồng lạ” tức là buồn chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: – “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm”. Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.

Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải là một bài, bởi hai câu đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi. Như vậy thì Ức Trai làm thơ như thế hay sao?

[…] Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, anh ấy bảo với tôi: Trong thơ chữ Hán của Ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, có câu thơ: “Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tư” nghĩa là: “Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình”, tức là thơ chữ Hán cũng với một tứ với thơ chữ Nôm “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm” đó. Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết trong câu mở đầu: “Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm”. Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn “tốt lại thêm” tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm.

Hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”. Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự “lạ”, mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong “đất mầu”. Ôi! Nếu là thơ Ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở Á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hán dạ vĩnh giác xuân tư, “đêm thâu cảm thấy một xuân riêng” bênh vực cho câu thơ chữ Nôm “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ Ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940) cũng có một tứ thơ gần với Ức Trai, và đã gộp cả chữ “lạ” trong thơ chữ Nôm và chữ “xuân” trong thơ chữ Hán của Ức Trai: “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả”.

Nếu hiểu “buồng” là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý – điều mà nhà thơ Ức Trai quyết không làm.

Và khi đã hiểu được chữ “diệu” của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên,… đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là “gió”, là đối tượng anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là ngượng gạo, mà là gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem

Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc

(trích “Kỉ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi”)

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào?

A. Văn bản truyện, kể về một người bạn

B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ

C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ

D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả

Câu 2: Nội dung của luận điểm 2 là gì?

A. Giá trị bài ở 2 câu kết

B. Sự huyền diệu của bài thơ

C. Câu thơ “diệu” hơn cả

D. Thần của bài thơ: xúc cảm

Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4?

A. Giá trị bài ở 2 câu kết

B. Thần của bài thơ: xúc cảm

C. Câu thơ “diệu” hơn cả

D. Sự huyền diệu của bài thơ

Câu 4: Dẫn chứng “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả” để làm sáng tỏ cho luận điểm nào sau đây?

A. Câu thơ “diệu” hơn cả

B. Sự huyền diệu của bài thơ

C. Thần của bài thơ: xúc cảm

D. Vẻ đẹp của toàn bài thơ

Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 5 của văn bản?

A. Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình

B. Người đọc hiểu đúng về chữ “gượng”

C. Làm rõ đối tượng tâm tình: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu?

D. Phủ nhận ý: ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân

Câu 6: Dòng nào nói lên đặc điểm dẫn chứng/ bằng chứng trong văn bản trên?

A. Dẫn chứng trực tiếp

B. Dẫn chứng gián tiếp

C. Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải

D. Dẫn chứng phong phú, đa dạng (thơ và văn xuôi)

Câu 7: Văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” phân tích sâu sắc nhất ý nghĩa của câu thơ nào trong bài thơ tứ tuyệt đó?

A. Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

B. Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

C. Tình như một bức phong còn kín

D. Gió nơi đâu gượng mở xem

Câu 8: Dòng không nói lên mục đích của văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”?

A. Một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi

B. Cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”

C. Bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc

D. Yếu tố biểu cảm thể hiện cảm xúc của tác giả

Câu 9: Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” – Xuân Diệu

Lời giải:

– Câu văn có yếu tố biểu cảm:

+ Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khối, nhất quán, của Nguyễn Trãi.

+ “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng.

+ Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.

– Xuân Diệu không bộc lộ trực tiếp cảm xúc hân hoan, say mê của mình khi khám phá giá trị và hiểu trọn vẹn bài thơ Ba tiêu

→ Cảm xúc ấy lan tỏa tác động vào xúc cảm của người đọc…

Câu 10: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao?

Lời giải:

– Gợi ý tham khảo:

+ Gắn từ “gượng” vào chỉnh thể bài thơ để thấy cách hiểu hợp lí

+ Phân tích các hiểu chưa hợp lí (nêu rõ lý do)

→ Suy luận để khẳng định ý kiến cá nhân

————/————

Trên đây là 3 bộ đề đọc hiểu Bài thơ cây chuối đọc hiểu (Ba tiêu) được tổng hợp từ nhiều bài thi khác nhau do chính tay cô biên soạn. Hy vọng sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em nắm vững nội dung tác phẩm cũng như biết cách để trả lời tốt các câu hỏi trong kì thi sắp tới.

Chúc các em tự tin, bình tĩnh và đạt điểm cao trong kỳ thi sắp tới.

Người đăng bài: Cô Phạm Thị Thu Phương

Vdoc.edu.vn

Phạm Thị Thu Phương

Website Vdoc.edu.vn được tạo ra với mục đích chia sẻ kiến thức, tài liệu và kinh nghiệm dạy học từ cá nhân cũng như từ các nguồn đáng tin cậy khác. Tất cả các bài viết, tài liệu trên trang này đều được biên soạn một cách cẩn thận và chăm chỉ từ chính tôi hoặc được lựa chọn từ các nguồn uy tín, với sự trích dẫn rõ ràng và công bằng. Mục tiêu của tôi là mang đến cho các em học sinh những tài liệu bổ ích, đáng tin cậy và giúp các em phát triển kỹ năng học văn, kỹ năng làm văn một cách hiệu quả nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button